Đã cập nhật thời khóa biểu thực hiện từ tuần 03 năm học 2014 - 2015, thực hiện từ ngày 01/09/2014, đề nghị học sinh theo dõi và thực hiện.

Trang chủ » Tin Tức » tổ chuyên môn - thi đua khen thưởng

Tổng hợp SKKN đã đạt giải năm học 2012-2013 do sở GD&ĐT Đak Lak công nhận

Thứ tư - 11/09/2013 10:08
Tổng hợp SKKN đã đạt giải năm học 2012-2013 do sở GD&ĐT Đak Lak công nhận

Tổng hợp SKKN đã đạt giải năm học 2012-2013 do sở GD&ĐT Đak Lak công nhận

TRƯỜNG THPT VIỆT ĐỨC HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TỔNG HỢP VÀ BÁO CÁO: ĐINH VĂN QUYẾT
Sáng kiến, kinh nghiệm (SKKN) là tiêu chí bắt buộc để giáo viên được công nhận là giáo viên giỏi, chiến sĩ thi đua các cấp. Tuy nhiên, hiện nay có một thực tế là những sáng kiến đó chỉ có người viết và hội đồng khoa học chấm SKKN được đọc, sau đó rơi vào quên lãng.
       Các trường thường phát động phong trào đăng ký viết SKKN vào đầu năm học. Việc đăng ký trở thành tiêu chí thi đua năm học của mọi giáo viên, ai không đăng ký là đồng nghĩa với không hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học. Giáo viên nào đăng ký danh hiệu chiến sĩ thi đua  phải kèm theo SKKN được Hội đồng khoa học Sở Giáo dục và Đào tạo công nhận.
        Dạy học là một quá trình sáng tạo liên tục, vì vậy cần khuyến khích những SKKN và phổ biến rộng rãi để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học. Nội dung đề tài nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm tập trung vào những lĩnh vực như: đổi mới hoạtđộng quản lý giáo dục, đổi mới phương pháp dạy - học và giáo dục đạo đức cho học sinh, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ, hiệu quả hoạt động của chuyên môn, của các bộ phận chức năng, hiệu quả các hoạt độngphong trào thi đua của đơn vị…
CÁCH ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SKKN
1. Về nội dung: 90điểm
a)Tính mới - 20 điểm
Trên cơ sở kinh nghiệmtrong công tác quản lý, giảng dạy, giáo dục...phát hiện và xây dựng được nộidung, phương pháp mới, có tính đột phá, phù hợp và nâng cao được hiệu quả, chấtlượng trong quá trình thực hiện công tác của mình.
b)Tính khoa học - 25 điểm.
- Cóluận đề: Đặt vấn đề gọn, rõ ràng (giới thiệu được khái quát thực trạng, mụcđích ý nghĩa cần đạt, những giới hạn cần có...)
- Cóluận điểm: Những biện pháp tổ chức thực hiện cụ thể
- Cóluận cứ khoa học, xác thực: thông qua các phương pháp hoạt động thực tế
- Cóluận chứng: những minh chứng cụ thể ( số liệu, hình ảnh...) để thuyết phục được người đọc.
Toànbộ nội dung được trình bày hợp lý, có quan hệ chặt chẽ giữa các vấn đề được nêu, có sử dụng các phương pháp để phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát được mục tiêu, vấn đề nêu ra; phù hợp với qui luật, với xu thế chung, không phải là ngẫu nhiên.
c)Tính ứng dụng thực tiễn - 20 điểm.
Mang tính khả thi, có khả năng ứng dụng đại trà, được các CB-GV trong ngành vận dụng vào công việccủa mình đạt kết quả cao.
d) Tính hiệu quả - 25 điểm
Đem lại hiệu quả trongcông tác quản lý, giảng dạy và giáo dục; trong việc tiếp nhận tri thức khoa học hay hình thành kỹ năng thực hành của học sinh. Áp dụng trong thực tế đạt được hiệu quả cao nhất, với lượng thời gian và sức lực được sử dụng ít nhất, tiết kiệm nhất.
2. Về hình thức: 10 điểm
a) Trình bày nội dung theo bố cục đã nêu trên, từ ngữ và ngữ pháp được sử dụng chính xác, khoa học;các kiến thức được hệ thống hóa một cách chặt chẽ phù hợp với đổi mới giáo dụchiện nay.
b) Đề tài được soạn thảovà in trên máy vi tính, trang trí khoa học, đóng bìa đẹp. Bìa sáng kiến kinh nghiệm phải được ghi rõ ràng theo trật tự sau: tên cơ quan chủ quản, tên đơn vị, tổ,  tên đề tài; tên tác giả; chức danh; năm thực hiện.
        Năm học 2012-2013 trường THPT Việt Đức đã có 12 SKKN được Sở GD&ĐT Đak Lak công nhận, trong đó có 02 giải A, 03 giải B, 07 gải C. Lãnh đạo Nhà trường tuyên dương các thầy cô giáo đã có những sáng kiến, giải pháp hay để nâng cao chất lượng của Nhà trường trong quản lý, trong dạy và học. Mong các đồng chí phát huy hơn nữa trong những năm học tới.
Để nhân rộng SKKN chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt các SKKN đã đạt giải năm học 2012-2013. Xin trân trọng giới thiệu.

                                                                                                                                                           PHÓ HIỆU TRƯỞNG
                                                                                                                                                                    (đã ký)
 
                                                                                                                                                             ĐINH VĂN QUYẾT
 


 
TÓM TẮT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2012-2013
Tác giả: Văn Thành Sơn                                       
Năm sinh: 1966
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học Sư phạm môn Toán, Thạc sỹ Quản lý Giáo dục
Chức năng nhiệm vụ được phân công: Bí thư chi bộ-Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THPT Việt Đức, huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk
NỘI DUNG SÁNG KIẾN
     1. Nêu thực trạng nhiệm vụ, công tác trước khi áp dụng sáng kiến
          A. Thuận lợi
 + Đội ngũ cán bộ quản lý là những người có nhiều kinh nghiệm trong quản lý nhà trường, giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình dạy học.
 + Giáo viên có ý thức trong việc đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giờ dạy.
+ Công tác quản lý đổi mới phương pháp dạy học của cán bộ quản lý ở trường THPT Việt Đức từng bước đi vào hoạt động có nề nếp, đạt được một số kết quả nhất định. Hiệu trưởng đã đề ra các quy định cụ thể trong việc đổi mới phương pháp dạy học vào tiêu chí thi đua của nhà trường.
          B.  Khó khăn
          + Chất lượng giáo dục có chuyển biến song chưa thật sự đáp ứng yêu cầu mới của giáo dục, còn có sự chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các môn.
            + CSVC tuy được tăng cường song cũng chưa thật sự đáp ứng yêu cầu mới.
            +  Một bộ phận đội ngũ giáo viên còn hạn chế về năng lực và trình độ đào tạo.
           +  Về CSVC phục vụ cho việc đổi mới PPDH chưa đáp ứng một cách thỏa đáng
          2. Những yếu tố khách quan, chủ quan của những giải pháp, sáng kiến được đề xuất trong thực hiện nhiệm vụ công tác:
+ Bộ máy quản lý của trường THPT Việt Đức đều được chuẩn hóa về mặt quản lý, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ ( 2/3 là Thạc sĩ); vì thế mà việc đề ra các phương án cụ thể hay đề xuất các biện pháp để thực hiện đổi mới PPDH có mặt thuận lợi. Nhưng việc đổi mới PPDH vẫn còn một số mặt hạn chế cơ bản: năng lực của giáo viên khi sử dụng công cụ thông tin hiện đại, tâm lý tự mãn nên ít cầu tiến, yêu cầu và áp lực của các kỳ thi đã làm cho việc triển khai và thực hiện đổi mới PPDH còn hình thức, chưa đi sâu vào nội dung.
+ Thực trạng hiện nay cho thấy Hiệu trưởng đều tỏ rõ quyết tâm cao, rất tâm huyết với việc đổi mới PPDH song về mặt quản lý còn thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể và cần thiết để có được tác động hiệu quả đến từng cá nhân và các tổ chức trong và ngoài nhà trường.
+ Thực tế cho thấy rằng Hiệu trưởng khi thực hiện việc quản lý một cách đồng bộ và toàn diện đối với hoạt động của tổ chuyên môn, đoàn thể, việc giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh, Hội cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội, đồng thời biết cách tạo động lực thích hợp cho các đối tượng sẽ tạo được sự chuyển biến tích cực trong việc dạy và học. Đó là điều kiện thiết yếu cho việc đổi mới PPDH.
         Nhận thức được vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học, trong thời gian qua bản thân cũng đã cố gắng vận dụng các biện pháp để yêu cầu giáo viên trong quá trình dạy học phải đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.
Công tác quản lý đổi mới phương pháp dạy học của hiệu trưởng ở trường THPT tốt theo bản thân tôi, cần thực hiện đồng bộ một số biện pháp sau:
        - Biện  pháp nâng cao nhận thức và tạo động lực đổi mới PPDH cho giáo viê
        - Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học, tổ chức hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng thực hiện các PPDH cho giáo viên.
        - Biện pháp tổ chức tốt phong trào tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong thời kì đổi mới.
        - Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động của tổ chuyên môn về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.
       - Biện pháp tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đổi  mới PPDH
       - Biện pháp phối hợp tốt với các lực lượng giáo dục, tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường, cha mẹ học sinh… trong việc đổi mới phương pháp dạy học.
           Xác định mức độ cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đã nêu ở trên, bản thân tôi đã điều tra hỏi ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên . Nhìn chung các ý kiến đồng nhất ở quan điểm cần thiết phải:
           + Nâng cao nhận thức và tạo động lực đổi mới PPDH cho giáo viên.
           + Tăng cường quản lý hoạt động dạy học, tổ chức hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng thực hiện các phương pháp dạy học cho giáo viên, giúp giáo viên về đổi mới PPDH.                                    
           + Tổ chức tốt phong trào tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong thời kì đổi mới.
           + Tăng cường quản lý hoạt động của tổ chuyên môn về thực hiện đổi mới PPDH.
           + Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đổi mới PPDH..
 + Phối hợp tốt với các lực lượng giáo dục, tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường, cha mẹ học sinh trong việc đổi mới PPDH.
 3. Tên sáng kiến kinh nghiệm: Biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học của hiệu trưởng trường THPT Việt Đức, huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk.
 4. Nội dung sáng kiến:
             Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những biện pháp quản lý quan trọng của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường. Trong những năm qua công tác quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT Việt Đức huyện Cư Kuin đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập do tác động của những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nếu xác lập và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học phù hợp thì chất lượng và hiệu quả dạy học ở  trường THPT Việt Đức có thể được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình sách giáo khoa trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn trong vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, đề tài đưa ra các giải pháp để nâng cao việc quản lý đổi mới phương pháp dạy học.
 5. Khả năng áp dụng, phạm vi áp dụng sáng kiến đưa ra và hiệu quả của sáng kiến mang lại.
            SKKN áp dụng được ở trường THPT Việt Đức có thể nhân rộng để hiệu trưởng các trường THPT tham khảo và vận dụng trong cách quản lý nhà trường nói chung và quản lý đổi mới phương pháp dạy học nói riêng. Việc áp dụng sáng kiến này đã rất thành công ở trường THPT Việt Đức trong những năm học qua.
 

Tác giả: Đinh Văn Quyết
Chức vụ: Chi ủy viên- Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THPT Việt Đức, huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk
Đề tài: Cách làm mới trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để giáo dục tư tưởng chính trị đạo đức lối sống cho học sinh.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh-Lãnh tụ thiên tài của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Người mà tiểu sử giống như những trang huyền thoại lung linh ánh sáng, thu hút lòng ngưỡng mộ, kính yêu từ hàng triệu trái tim của nhân loại tiến bộ trên thế giới, bằng một sự nghiệp cách mạng hào hùng và vĩ đại của mình. Người mà với tài năng và đức độ đã trở thành một lý tưởng hoàn thiện tuyệt vời nhất về cả sức mạnh chiến thắng và lòng nhân ái bao la, khiến ngay cả kẻ thù cũng tỏ lòng khâm phục. Lý tưởng Hồ Chí Minh là mục tiêu cao đẹp nhất, hoàn thiện tuyệt vời nhất cho sự phấn đấu vươn tới của biết bao thế hệ người Việt Nam.  Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm thường xuyên đối với toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ những người chủ tương lai của đất nước.  Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời-đạo đức của một vĩ nhân-Lãnh tụ Cách mạng vĩ đại, một chiến sĩ Cộng sản lỗi lạc, nhưng đồng thời là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học tập và làm theo để làm một người Cách mạng, làm một người công dân tốt.
        Tăng cường giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc đã có cũng như những giá trị mới xuất hiện trong đời sống hiện nay cho  học sinh nhà trường là việc làm hết sức quan trọng, có ý nghĩa xã hội to lớn, đặc biệt là trong giai đoạn cả nước đang ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Hơn lúc nào hết, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho  học sinh trong giai đoạn hiện nay vừa là trách nhiệm chung của toàn xã hội, vừa là một lĩnh vực giáo dục quan trọng đối với mỗi thầy cô giáo và với mỗi trường học, mỗi gia đình và cả toàn xã hội. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Cách làm mới trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của trường Trung học Phổ thông Việt Đức.
Đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh
Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách mệnh - Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc.
Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn, gồm 5 điểm: Một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác.
Khái quát thực trạng về tư tưởng, đạo đức, lối sống của học sinh trường THPT Việt Đức
         Học sinh trường THPT Việt Đức là những con người năng động, sống có hoài bão, có ý chí phấn đấu tốt trong học tập và lao động. Đa số học sinh cơ bản giữ vững đạo đức cách mạng, sống trong sạch, giản dị, lành mạnh, biết vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ. Điều đó cho thấy, học sinh trường THPT Việt Đức ý thức rõ trong học tập và lao động, có trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, mong muốn được đóng góp vào công việc xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước.
Bên cạnh những biểu hiện của tư tưởng tích cực và lành mạnh, của hành vi ứng xử có văn hóa, vẫn còn một số ít học sinh có những hành vi thiếu văn hóa, có biểu hiện vi phạm về đạo đức, ham chơi, đua đòi, không lo học tập, sống không có hoài bão lí tưởng. Điều đó dễ tạo cho một bộ phận học sinh thói quen quên lãng truyền thống, mất phương hướng trong cuộc sống, sống không tình nghĩa. Đây hoàn toàn là những biểu hiện của nếp sống xa lạ, sai trái, đi ngược với truyền thống văn hóa của dân tộc.
Các kết quả đạt được của SKKN
        Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện, sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Cách làm mới trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh” đã đạt được các kết quả chính sau đây:
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Những tư tưởng của Người về công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong nhà trường vẫn còn nguyên giá trị. Thiết nghĩ, ngày nay, trước yêu cầu “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam”, thì việc các thầy giáo, cô giáo và các lực lượng giáo dục cần vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ vào công tác giáo dục cụ thể là điều vô cùng cần thiết để góp phần đào tạo nên những con người tốt, những công dân tốt cho nước nhà.
Nghiên cứu về nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống
 cho học sinh trường THPT Việt Đức.
        Hiểu được tầm quan trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của học sinh. Trong Di chúc thiêng liêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đảng phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng họ thành những người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa chuyên. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”. Đại hội X của Đảng chỉ rõ phải coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách của người Việt Nam. Trong đó: “Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” sẽ góp phần đáp ứng tốt yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực trẻ.
         Vận dụng vào thực tiễn của Trường THPT Việt Đức còn khó khăn về cơ sở vật chất, nguồn tuyển sinh hằng năm không đủ số lượng học sinh theo chỉ tiêu nên chất lượng thấp; một bộ phận học sinh còn ham chơi, chưa quan tâm đến học tập và rèn luyện bản thân, có biểu hiện vi phạm về đạo đức. Với sự nổ lực phấn đấu của tập thể nhà trường và sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người; tập thể nhà trường đã cố gắng phấn đấu, không ngừng học tập, tu dưỡng đạo đức; do đó công tác giáo dục đạo đức cho học sinh và chất lượng đào tạo của trường đạt được những thắng lợi đáng kể.
Các giải pháp của SKKN về giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh
1.Rèn luyện nhân cách của người thầy để giải quyết tốt các tình huống sư phạm
2.Rèn luyện tính kiên nhẫn của người thầy
3.Rèn luyện sự đồng cảm của người thầy
4.Nâng cao chất lượng đội ngũ, năng lực nhà giáo-liên hệ bản thân
5.Lồng ghép công tác giáo dục đạo đức vào công tác học tập của  học sinh
6.Tăng cường giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
7.Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện
8.Tổ chức các hoạt động nhân đạo, hiến máu tình nguyện, đền ơn đáp nghĩa
9.Tích cực tham gia các hoạt động tìm hiểu về tư tưởng Hồ Chí Minh
10.Đẩy mạnh vai trò của Đoàn thanh niên trong giáo dục chính trị, tư tưởng
11.Phát huy vai trò tự học tập, tự du dưỡng của học sinh

Hiệu quả của sáng kiến mang lại

         Qua 5 năm thực hiện mỗi thầy cô giáo trường THPT Việt Đức đã có những biện pháp, kỷ luật chặt chẽ đối với những học sinh còn kém tư cách, ý thức; biểu dương khen thưởng thích đáng đối với học sinh học tập, tu dưỡng tốt. Trong việc đánh giá học sinh "công bằng và nghiêm túc" tạo cho học sinh có niềm tin, có ý thức học tập tốt, rèn luyện nghiêm. Số ít học sinh còn lơ là, chểnh mảng trong học tập đã biết tự rèn luyện, biết tự sửa mình, tự lực cánh sinh vượt qua mọi khó khăn thử thách trong học tập.
         Về việc thực hành tiếc kiệm chống lãng phí: nhà trường đã thực hiện tốt việc tiết kiệm điện, nước, sinh hoạt phí, liên hoan, thời gian hội họp, ... Mọi người biết bảo vệ tài sản của công, xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh. Và trên hết mỗi cán bộ, giáo viên của trường đã học ở Bác tình thương yêu các em học sinh, áp dụng ngay thực tiễn của nhà trường để dạy học cho học sinh biết yêu thương giúp đỡ nhau trong cuộc sống và tiến bộ trong học tập.
Trong phong trào thi viết tìm hiểu về tư tưởng  Hồ Chí Minh, tìm hiểu về tác phẩm Di Chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tìm hiểu về Lịch sử 80 năm Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử Đảng bộ tỉnh Đak Lak do huyện ủy Cư Kuin và tỉnh ủy tổ chức,  kết quả là ở mọi cuộc thi tất cả học sinh và giáo viên tham gia đầy đủ và đạt nhiều giải cao, tập thể xếp thứ Nhì của Huyện, một giáo viên xếp giải Nhất.
Hằng tuần các lớp trực tuần đều phải sưu tầm một một chuyện kể về Bác Hồ để đọc cho học sinh toàn trường nghe, rút ra bài học bổ ích cho bản thân và tập thể lớp, Chi đoàn, các tổ chức Đoàn thể.

·         Học sinh đã có tấm lòng nhân ái, bao dung, biết yêu thương và chia sẽ

         Tham gia tích cực trong phong trào “Hiến máu tình nguyện” do HCTĐ huyện phát động, hàng năm học sinh lớp 12 đã tình nguyện hiến hàng trăm đơn vị máu cho Bệnh viện tỉnh. Có tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách bằng những việc làm cụ thể và đầy ý nghĩa như phong trào: “quyên góp quần áo cũ để gửi tặng cho học sinh ở các vùng sâu vùng xa”, phong trào “giúp bạn nghèo vượt khó trong học tập” các em đã quyên góp tặng các bạn  học sinh khó về sách vở và dụng cụ học tập.

·         Ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống tiến bộ rõ nét

         Học sinh có chuyển biến tốt trong việc chấp hành nội quy trường lớp. Biết quan tâm đến bạn bè, đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập. Tích cực rèn luyện bản thân, đồng thời biết phê phán hành vi, biểu hiện sai trái của bạn bè và người xung quanh.

·         Ý thức về trách nhiệm với cộng đồng, bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp

         Các em đã có ý thức góp phần vào việc bảo vệ, gìn giữ cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp, tham gia lao động công ích, các công trình thanh niên,  như trồng cây xanh, chăm sóc vườn hoa, xây bồn hoa,...

·         Ý thức tiết kiệm chuyển biến tích cực     

        Học sinh đã biết tiết kiệm điện nước, khi ra khỏi phòng học đã có ý thức tắt đèn, tắt quạt, khóa kỹ vòi nước sau khi sử dụng; biết sử dụng và phân bố thời gian hợp lý cho việc học, việc chơi, việc sinh hoạt để không lãng phí thời gian vào các trò chơi vô bổ.
Một số hạn chế cần khắc phục
Các giải pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh trường THPT Việt Đức trong sáng kiến chưa phải là những giải pháp hay nhất.
Sáng kiến này chưa thực hiện trong các trường THPT khác của tỉnh Đăk Lăk.
 

Họ và tên: Trần Ngọc Hùng
Ngày sinh: 10 – 12 – 1969
Tổ Sinh – KTNN
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn tổ Sinh – KTNN
Tên nội dung sáng kiến: PHƯƠNG PHÁP NHẬN DẠNH VÀ GIẢI NHANH BÀI TẬP PHẦN QUI LUẬT DI TRUYỀN MEN ĐEN
 
Xuất phát từ thực tế những công việc được giao, để góp phân thiết thực trong quản lý tổ chuyên môn và nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn Sinh học trong Trường THPT Việt Đức; Bản thân tôi đã suy nghĩ, có ý tưởng đề ra sáng kiến để nhằm đưa lại hiệu quả cao cho học sinh học phần này và giúp các em nhận ra dạng bài tập và cách giải nhanh nhất có hiệu quả cao.
1. Giải pháp chính của SKKN : Từ đúc kết kinh nghiệm qua 20 năm giảng dạy bộ môn Sinh học ở trường PTTH, chương các Các qui luật di truyền là chương kiến thức khó, trìu tượng không những đối với Học sinh mà cả những Giáo viên mới vào nghề chưa có kinh nghiệm, tôi đã viết sáng kién này nhằm làm sáng tỏ bản chất của Qui luật, nội dung chủ yếu trọng tâm, cốt lõi của vấn đề, từ đó dễ dàng nhận ra qui luật cụ thể và tìm cách giải nhanh hiệu quả chính xác:
-          Biết được xu hướng tất yếu của Qui luật, chính là sự vân động của NST, của Gen trên NST trong quá trình Giảm phân và thụ tinh:
        + Trong Tế bào NST tồn tại từng cặp tương đồng, gen tồn tại từng cặp alen.
        + Trong giao tử mỗi cặp NST còn lại 1 chiếc, cặp alen còn lai 1 alen( 1 gen).
-          Sự phân ly và tổ hợp của 1 cặp NST( Qui luật phân ly), của các cặp NST( Qui luật phân ly độc lập) trong giảm phân và thụ tinh, các cặp gen alen cũng có quá trình tương tự là cơ sở phân tử ( gen) hoặc cơ sở tế bào học( NST) của Qui luật di truyền Men Đen.
-          Đối với Qui luật Di truyền Men đen là những Qui luật Cơ bản, nhưng cũng nghiên cứu quan hệ Gen, NST và tính trạng đơn giản, nghĩa là mỗi gen trên 1 NST qui định 1 tính trạng. Như vậy sự vận động của NST và gen trong Giảm phân và thụ tinh là giống nhau. Từ đó nghiên cứu kỹ Qui luật phân ly thì Qui luật phân ly độc lập chẳng qua là Tích của các Qui luật phân ly.
-          Đối với qui luật phân ly: Giáo viên và học sinh nhớ được 6 phép lai của P suy ra F1 được tỷ lệ kiểu gen, số loại kiểu gen, tỷ lệ kiểu hình, số loại kiểu hình ( Trội hoàn toàn và trội không hoàn toàn)  trong Bảng 1 của SKKN, có thể suy luận ngược lại từ kết quả ở F1 suy ra P.
* Ví dụ :  Phép lai   P    Aa x Aa
           Thì ở F1:   +Tỷ lệ kiểu gen là  1AA: 2Aa: 1aa
                              +Số loại kiểu gen là: 3
                              +Tỷ lệ kiểu hình: trội hoàn toàn là 3A- trội: 1aa lặn
                              +Trội không hoàn toàn là 1AA trội : 2Aa trung gian: 1aa lặn
  Hoặc ngược lại bài ra yêu cầu tìm P khi cho F1 thu được tỷ lệ kiểu hình lai 1 tính trạng là 3 trội: 1 lặn  suy ra P phải có kiểu gen dị hợp Aa và kiểu hình trội

-          Đối với Qui luật phân ly độc lập thì nguyên tắc cơ bản, chủ yếu Giáo viên và học sinh phải biết được 2 bước:
  + Bước 1: Tách từng cặp tính trạng ( Qui luật phân ly).
  + Bước 2:  Tích tổ hợp tự do giữa các cặp tính trạng( Qui luật phân ly độc lập).
*Ví dụ: Biết mỗi gen trên 1 NST qui định 1 tính trạng, trội lăn hoàn toàn.
 Cho phép lai       P:    AaBbDd x AaBbdd
 Xác định số loại kiểu gen ở F1
  +Tách từng cặp   P :  Aa x Aa => F1 được 3 kiểu gen.
                              P :  Bb x Bb => F1 được 3 kiểu gen.
                              P :  Dd x dd => F1 được 2 kiểu gen.
  +Tích tổ hợp giữa các cặp ở F1 số loại kiểu gen là: 3 x 3 x 2 =18.

( Nếu có Thời gian Đọc SKKN của tôi sẽ nhận thấy cụ thể, đầy đủ và rõ ràng hơn).
2. Hiệu quả mang lại: Qua thời gian Dạy bộ môn sinh THPT trong hơn 20 năm tôi đã, đang áp dụng Cách dạy này và nhận thấy đat hiệu quả cao, học sinh học xong hiểu và vận dụng tốt cách này, bằng chứng là tỷ lệ TN PTTH và Đại học trong thời gian tôi dạy ở THPT Đak mil và THPT Việt đức luôn có % cao hơn mặt bằng so với mặt bằng của Tỉnh ( đây là nói về TN).
3. Bài học kinh nghiệm: trong quá trình viết SKKN đòi hỏi giáo viên phải đọc thêm tài liệu tham khảo kể cả cùng Bộ môn hay khác Bộ môn, Câu chữ phải chính xác về ngữ pháp và nội dung, trình bày phải khoa học loogic…Từ đó giáo viên đã tự học hỏi thêm được nhiều điều mới lạ, bổ ích… so với khi chưa tham gia viết SKKN.
4. Kiến nghị:
 - Nhà Trường, BGH nên bắt buộc tất cả mọi Giáo viên sau khi giảng dạy qua 1 năm đều phải viết SKKN, vì dù dạy nhiều năm hay ít năm thì bản thân mỗi Thầy, Cô giáo đi dạy đều tích lũy được kinh nghiêm ít hay nhiều trong quá trình dạy.
 - Những SKKN đạt giải có hiệu quả thiết thực cần được động viên cao hơn (Về mặt vật chất cũng như tinh thần), phổ biến rộng rãi trong trường, trong tỉnh… Đây là nguồn động viên vô cùng to lớn đối với họ sau những ngày tháng ngày lo giảng dạy, lo cuộc sống đời thường còn dành thời gian để viết SKKN.
 Tôi xin chân thành cảm ơn.
 
 
Nguyễn Ngọc Dũng
Thư ký HĐGD
Tổ Sinh - KTNN
1.Đề tài:
 
  CÔNG THỨC VÀ CÁCH GIẢI CÁC DẠNG BÀI TẬP QUẦN THỂ NGẪU  PHỐI - TỰ PHỐI
2. Đặt vấn đề
3. Cơ sở lí luận:
Sách giáo khoa sinh học 12 hiện nay chương “ Nguyên nhân và cơ chế tiến hoá ” theo tôi đây là chương khó dạy nhất và với học sinh đây là chương khó học, khó hiểu và cả khó nhớ nhất.
4. Cơ sở thực tiễn
+ Ở sách giáo khoa sinh học 12 phần này chỉ đề cập chủ yếu về mặt lí thuyết, sách bài tập có rất ít bài tập về phần này.
            + Ngược lại với thời gian dành cho phần này, thực tế trong hầu hết các đề thi nội dung phần này lại chiếm tỉ lệ nhiều, đều dưới dạng bài tập, nhiều bài tập thậm chí rất khó.
+ Với những thực tiễn ở trên để làm đúng và nhanh nhất những câu bài tập quần thể học sinh cần có phương pháp giải nhanh. Vậy làm thế nào để giải nhanh.
            -Nắm được dạng toán.
            -Thuộc công thức, các hệ số.
            -Thế và tính thật nhanh
         +Với những thực tế đó đòi hỏi giáo viên có những phương pháp nghiên cứu nhất định. Tôi đã thành lập công thức và đưa ra Một số dạng bài tập phần quần thể ngẫu phối-Tự phối và Phương pháp giải để giúp các em dễ dàng làm được các câu trắc nghiệm phần quần thể dưới dạng bài tập.
5. Nội dung nghiên cứu:    
            A. Một số công thức cơ bản dùng cho quần thể ngẫu phối và quần thể tự phối:
            I. Một số công thức dùng cho quần thể ngẫu phối
          II. Một số công thức dùng cho quần thể tự phối:
        B. Phương pháp giải một số dạng bài tập cơ bản.
      I. Bài tập về quần thể ngẫu phối
a. Dạng 1:
Từ cấu trúc di truyền quần thể chứng minh quần thể đã đạt trạng thái cân bằng hay không, qua bao nhiêu thế hệ quần thể đạt trạng thái cân bằng:
          b. Dạng 2:
  -Từ số lượng kiểu hình đã cho xác định cấu trúc di truyền của quần thể.
            - Chú ý đề dạng này thường có 2 kiểu: Kiểu 1 cho số lượng cá thể của tất cả kiểu hình có trong quần thể. Kiểu 2 chỉ cho tổng số cá thể và số cá thể mang kiểu hình lặn hoặc trội
          c.Dạng 3:
            Cho số lượng kiểu hình xác định tần số tương đối của các alen
          d. Dạng 4: Từ tần số tương đối của các alen tìm cấu trúc di truyền quần thể.
II. Bài tập về quần thể tự phối
a. Dạng 1: Cho thành phần kiểu gen của thế hệ P (thế hệ xuất phát) 100% dị hợp Aa  qua n thế hệ tự phối tìm thành phần kiểu gen của thế hệ Fn
b. Dạng 2:
Cho thành phần kiểu gen của thế hệ P qua n thế hệ tự phối tìm thành phần kiểu gen của thế hệ Fn
c. Dạng 3:
Cho thành phần kiểu gen của quần thể qua n thế hệ tự phối tìm thành phần kiểu gen của thế hệ P:
C. Hiệu quả của sáng kiến:
Học sinh dễ dàng áp dụng để làm các bài tập về quần thể.
D. Bài học kinh nghiệm:
Để viết được sáng kiến đạt giải cấp sở :
+ Trước hết phải chuẩn bị kiến thức thật vững.
+ Tìm hiểu vấn đề từ học sinh
+ Tìm hiểu cách trình bày SKKN
+ Khi viết một sáng kiến kinh nghiệm, tác giả cần làm rõ tính mục đích, tính thực tiễn, tính sáng tạo khoa học và khả năng vận dụng, mở rộng SKKN đó như thế nào?
D. Kiến nghị: Mỗi thầy , cô giáo chúng ta cần tham khảo nhiều sáng kiến đã đạt giải để chúng ta viết sáng kiến đạt chất lượng cao.
 
 
Họ và tên:     Lê Thị Loan
Ngày sinh:        18/3/1960
Chức vụ: Tổ trưởng Tổ Vật lý - KTCN
Tổ chuyên môn: Tổ Vật lý - KTCN
Báo cáo tóm tắt sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012-2013
Tên nội dung sáng kiến:
SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ DẠY BÀI:
BÀI TOÁN VỀ CHUYỂN ĐỘNG NÉM NGANG
Chuyển động ném là một dạng chuyển động thường gặp trong đời sống và kỹ thuật, chuyển động ném thường có các dạng sau đây:
- Chuyển động ném thẳng đứng xuống dưới;
- Chuyển động ném xiên một góc nào đó so với mặt phẳng nằm ngang;
- Chuyển động của vật ném ngang từ một độ cao nào đó so với mặt đất.
Vốn kiến thức đã biết của chúng ta (tức là của học sinh) chỉ là chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều và sự rơi tự do. Làm cách nào có thể xác định được chuyển động ném: quỹ đạo, yếu tố nào xác định tầm bay xa, thời gian vật bay trong không khí và vận tốc của vật khi vừa chạm đất.
            Từ vốn kiến thức đó, trong giới hạn của đề tài này, chỉ tập trung nghiên cứu và làm rõ chuyển động của vật ném ngang, mở rộng cho trường hợp vật ném xiên làm cơ sở tiền đề cho học sinh nghiên cứu các dạng chuyển động phức tạp hơn.
1.      Giải pháp chính của sáng kiến kinh nghiệm
            Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Hiện nay, khi khoa học quản lý giáo dục phát triển, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về giáo dục, đặc biệt chú trọng nghiên cứu về các phương pháp dạy học, các biện pháp để đạt được những nội dung giáo dục. Trong thực tiễn có nhiều phương pháp để truyền thụ kiến thức cho học sinh. Tuy nhiên, ứng với một nội dung bài dạy có những phương pháp có khả năng mang lại hiệu quả cao, nếu sử dụng phương pháp một cách hợp lý và kết hợp với những phương pháp khác.
Phương pháp kết hợp giữa diễn giảng và ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện giờ học này với mục tiêu là làm tăng hiệu quả tiếp thu của học sinh trong việc tiếp nhận tri thức. Tuy vậy, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng: mỗi phương pháp dạy học đều có một thế mạnh riêng, không có phương pháp dạy học nào là tối ưu, là vạn năng. Vấn đề quan trọng là chọn phương pháp phù hợp với nội dung bài dạy; đồng thời trong quá trình giảng dạy cần phải phối hợp một cách nhuần nhuyển các phương pháp dạy học khác nhau để đạt được mục tiêu đề ra.
1.2. Nội dung và cách thực hiện giải pháp, biện pháp
            - Giao trách nhiệm cho học sinh
            Trước khi giảng dạy bài này, yêu cầu học sinh ôn tập lại những kiến thức đã học về chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều và sự rơi tự do.
- Đối với giáo viên
Dẫn dắt học sinh vào bài học bằng cách đặt ra vấn đề làm cách nào để xác định được chuyển động ném ngang từ vốn kiên thức đã học là chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều và sự rơi tự do.
Giáo viên thực hiện các bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Thay thế chuyển động cong, phẳng của vật bằng hai chuyển động thẳng của hai hình chiếu của vật trên hai trục tọa độ Đề-các, tức là phân tích chuyển động.
Bước 2: Xác định tính chất của mỗi chuyển động thành phần và viết các công thức của chuyển động của chúng
Bước 3: Xác định chuyển động của vật từ các chuyển động thành phần như thế nào?
Trên cơ sở nội dung bài dạy, giáo viên sưu tầm những hình ảnh và thí nghiệm ảo liên quan để minh họa cho phần lý thuyết.
1.3.  Mối quan hệ giữa các giải pháp
Các giải pháp nêu trên nhằm mục tiêu hoàn thành nội dung giờ dạy bài: Bài toán về chuyển động ném ngang. Mỗi phương pháp, biện pháp đều có vai trò, vị trí riêng của nó. Nếu diễn giảng hay mà việc minh họa không kịp thời thì kiến thức trở thành mơ hồ, sai lệch; nếu hình ảnh đẹp mà diễn giảng không mạch lạc, không thuyết phục thì cũng khó thành công.
Do vậy, tất cả các giải pháp trên có quan hệ mật thiết với nhau. Tiết dạy thành công, học sinh tiếp thu tốt nội dung khi có sự phối hợp hài hòa tất cả các giải pháp nêu trên.
2.      Hiệu quả của sáng kiến mang lại
Kết quả khảo nghiệm trên 200 học sinh thuộc 5 lớp, khối 10:
- Nội dung kiến thức
 
Rõ ràng Chưa rõ ràng Không rõ ràng
180 16 4
90% 8% 2%
 
- Hình ảnh minh họa
 
Sinh động Bình thường Thiếu thuyết phục
190 8 2
95% 4% 1%
           
- Kết quả tiếp thu bài học
 
Tốt Khá Trung bình Khó hiểu Không hiểu
140 45 13 2 0
70% 22,5% 6,5% 1% 0%
 
Kết quả khảo nghiệm cho thấy: nội dung kiến thức rõ ràng 90%; hình ảnh  sinh động 95% và có 70% học sinh tiếp thu bài tốt.
Qua khảo nghiệm cho thấy việc sử dụng phương pháp kết hợp giữa diễn giảng và minh họa bằng hình ảnh nhờ ứng dụng công nghệ thông tin như trình bày trên đã có hiệu quả tốt với trên 92% học sinh tiếp thu bài khá, tốt. Tuy nhiên, có một số ít học sinh vẫn tiếp thu bài ở mức độ trung bình, thậm chí là không hiểu bài do nhiều nguyên nhân, trong đó có lý do học sinh không nắm kiến thức của các bài học trước, đồng thời kiến thức toán học của những học sinh ấy còn hạn chế.
Qua đánh giá trên, việc sử dụng phương pháp kết hợp giữa diễn giảng và minh họa bằng hình ảnh nhờ ứng dụng công nghệ thông tin đã có hiệu quả cao trong việc dạy bài: Bài toán về chuyển động ném ngang. Qua bài học này, điều có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn là cũng cố niềm tin của học sinh vào sự đúng đắn của khoa học và ứng dụng vào trong thực tế khi luyện tập các môn thể dục như đẩy tạ, nhảy xa… để nâng cao thành tích của mình.
3.      Bài học kinh nghiệm trong quá trình viết sáng kiến kinh nghiệm
- Khâu chuẩn bị: Cách chon đề tài, cách khảo sát, thu thập và xử lí số liệu…
- Các bước tiến hành: Xây dựng bố cục, viết bản thảo, sửa chữa và hoàn thành.
- Cách chọn đề tài:
+ Để một SKKN thực sự là một đề tài khoa học có giá trị vấn đề đầu tiên tôi thiết nghĩ đó phải thực sự là một đề tài của mình, một vấn đề mình đã từng làm, đã từng áp dụng và áp dụng có hiệu quả. Thực ra đó không nhất thiết phải là một vấn đề gì đó quá to tát, lớn lao mà có thể đó là một vấn nhỏ, rất thiết thực trong công tác chuyên môn của mình hàng ngày mình đã, đang và sẽ tiếp tục làm về lĩnh vực chuyên môn, công tác chủ nhiệm hoặc công tác quản lí, có thể chỉ là một khía cạnh nhỏ của bài dạy, của một tiết sinh hoạt lớp, của nội dung môt vấn đề nhỏ trong sinh hoạt chuyên môn, của việc áp dụng một phương pháp mới trong việc đổi mới dạy hoc, của một dạng, một kiểu câu hỏi trong bài dạy, của một dạng bài tập với một đối tượng học sinh.v.v …


- Cách khảo sát, thu thập và xử lí số liệu:
+ Khảo sát, thu thập và xử lý số liệu theo các phương pháp ngẫu nhiên và có chọn lọc.
+ Khảo sát phải khách quan, trung thực.
+ Tranh thủ ý kiến của chuyên gia, đồng nghiệp.
4.      Kiến nghị của bản thân
 Để viết một sáng kiến kinh nghiệm có chất lượng cần phải có thời gian suy nghĩ khá dài, thời gian nghiên cứu tài liệu, thời gian để thử nghiệm sáng kiến kinh nghiệm trong thực tiễn. Vì vậy, các cấp lãnh đạo cần có sự khen thưởng, động viên thích đáng.
                                   
Họ và tên : Võ Đức Tân
Ngày sinh : 24/12/1977
Chức vụ : Tổ trưởng Tổ khảo thí
Tổ chuyên môn: Tổ Lí – KTCN
 
 
Tên đề tài : VẬN DỤNG MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHUYỂN ĐỘNG TRÒN ĐỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA ĐỂ GIẢI MỘT SỐ BÀI TẬP DAO ĐỘNG CƠ.
Đối với các kì thi Đại học  - Cao đẳng, phương pháp trắc nghiệm đã trở nên quen thuộc đối với các thí sinh dự thi, đặc biệt với môn khoa học tự nhiên như môn Vật lí. So với phương pháp truyền thống thì phương pháp trắc nghiệm có tính khách quan và phản ánh toàn bộ nội dung chương trình….
  Với môn Vật lí, thi trắc nghiệm ngoài việc phải trả lời nhiều câu hỏi thuộc nội dung lí thuyết của toàn cấp học, các thí sinh cần phải nhạy bén và phải có khả năng suy luận logic để giải nhanh các bài tập
             Chính vì vậy, trong chương trình vật lí 12 khi giải quyết các bài tập về dao động điều hòa một trong những phần quan trọng của chương trình, tôi vận dụng ‘‘Mối liên hệ giữa chuyển động tròn đều và dao động đều hòa’’ để giúp các em học sinh giải quyết nhanh các bài toán về phần dao động điều hòa  một cách nhanh gọn và hiệu quả.
 
  1. Giải pháp chính của SKKN.
-          Hạn chế tối đa thời gian để giải bài toán mà vẫn mang lại hiệu quả( tức là tìm ra phương pháp giải bài toán nhanh nhất, hiệu quả nhất).
-          Vận dụng linh hoạt về dao động cơ ở lớp 12 và chuyển động tròn đều ở lớp 10.
  1. Hiệu quả của SKKN
-   Qua nhiều năm giảng dạy Vật lí ở lớp 12. Tôi đã cho học sinh tiếp cận và vận dụng một cách thành thạo phương pháp giải này. Đối với học sinh các lớp tôi dạy khi gặp các bài toán như vậy, hầu hết các em đều tự tin, và giải quyết nó một cách nhanh gọn và có hiệu quả cao.
  1. Bài học kinh nghiệm trong quá trình viết SKKN
-          Vận dụng Toán học vào Vật lí học.
-          Không nên viết nhiều vấn đề trên một đề tài.
-          Ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu.
-          Thành thạo tin học.
  1. Kiến nghị.
-          Với đề tài này, tôi chỉ giới hạn giải nhanh các bài tập về chương Dao động cơ. Phương pháp này có thể mở rộng để giải một số bài tập của phần : Sóng cơ, Dòng điện  xoay chiều và Dao động điện từ.
 
Họ và tên: Nguyễn Thị Tố Hằng
Ngày sinh: 02/01/1979
Chức vụ: Giáo viên
Tổ chuyên môn: Ngữ Văn
Tên đề tài:
TỪ XƯNG HÔ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC TRONG THƠ TỐ HỮU
 
1. Giải pháp chính của sáng kiến kinh nghiệm
Với đề tài này người viết sử dụng một số giải pháp như sau: Tiếp cận các văn bản để tìm tư liệu cho đề tài; phân tích, chứng minh những vấn đề người viết đưa ra; ngoài ra còn sử dụng một số giải pháp như sau: thống kê, khảo sát, so sánh, đối chiếu, tổng hợp,…
2. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm mang lại
Trong quá trình tìm tư liệu để viết đề tài người viết đã thư được nhiều kết quả đó là: viết và nghiên cứu về nhà thơ Tố Hữu có nhiều tác giả có tên tuổi đã nghiên cứu như giáo sư Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Đặng Thai Mai,… Hầu hết các phương diện nghệ thuật trong thơ Tố Hữu đều được xem xét từ quan điểm nghệ thuật, con đường cách mạng, đường thơ, bút pháp
Vấn đề “Từ xưng hô tròn thơ Tố Hữu” được nghiên cứu, tìm hiểu một cách chuyên sâu, có tính hệ thống trong suốt chặng đường thơ của ông. Từ đó nhận thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ nhất là nghệ thuật sử dụng từ xưng hô như một thủ pháp nghệ thuật đắc địa trong thơ Tố Hữu.
Qua quá trình viết đề tài người viết còn thấy được hành trình của “từ xưng hô” trong văn hóa người việt, các chặng đường mà từ xưng hô đã đi qua đến thơ Tố Hữu thì từ xưng hô được sử dụng một cách có hệ thống, có dụng ý nghệ thuật rõ rệt. Tác giả đã đưa những đứa con tinh thần của mình tiếp cận với bạn đọc một cách gần gũi nhất nhờ hệ thống các từ xưng hô. Điều thú vị mà đề tài mang lại là người viết nhận thấy trong văn hóa giao tiếp , ứng xử, xưng hô của người việt dùng rất nhiều từ xưng hô, qua cách xưng hô thể hiện thái độ, tình cảm đối với người khác, Đồng thời thấy được bản chất duy tình trong văn hóa người việt, ưa sự tế nhị, ý tứ, trọng sự hòa thuận, lời nói trở thành chuẩn mực thứ hai để đánh giá con người, hay nói cách khác nó là vẻ mặt thứ hai của mỗi người.
Đối với Tố Hữu một nhà thơ lớn được coi là “cánh chim đầu đàn” của văn học Việt Nam thì giữa tình và lí được ông kết hợp một cách nhuần nhuyễn, những tác phẩm do ông sáng tác đi sâu vào lòng người đọc một cách tự nhiên, các thông điệp được được tác giả gửi đến người đọc rất rõ ràng và khôn khéo, các thr pháp nghệ thuật được lồng vào một cách khôn khéo, tinh vi.Trong các thủ pháp nghệ thuật đó có “từ xưng hô” được nhà thơ sử dụng có chọn lọc cao.
Qua đề tài người viết bổ sung cho mình nhiều từ ngữ quý giá trong hệ thống từ xưng hô.
3. Bài học kinh nghiệm
Khi nghiên cứu, viết về một vấn đề - đề tài người viết phải thực sự tâm đắc với vấn đề đó, có thời gian đọc, tìm hiểu tài liệu cđể có một cái nhìn xuyên suốt vấn đề định viết
4. Kiến nghị
Đối với chương trình trung học phổ thông nên tăng thêm  tiết học về tác giả Tố Hữu.
Hàng năm nên tổ chức chuyên đề về các tác giả lớn trong chương trình trung học phổ thông để giáo viên có dịp học hỏi và bổ sung thêm kiến thức chuyên sâu.
Họ và tên : Trịnh Quốc Quý
Ngày sinh : 19 – 05 – 1980
Chức vụ : Giáo viên
Tổ chuyên môn : Toán tin
 
Tên nội dung sáng kiến : Một số biện pháp giảng dạy giúp học sinh ghi nhớ kiến thức mới.
Xuất phát từ tình hình thực tế những công việc được giao, để góp phần thiết thực trong quản lý và dạy học nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường : bản thân đã suy nghĩ, có ý tưởng đề ra sáng kiến để thực hiện :
Chính sách giáo dục mới hướng vào bồi dưỡng nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có trí thức, có tay nghề…”, và trọng trách to lớn đó trước hết đặt lên vai ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung. Trường THPT Việt Đức cũng như bao trường nằm ở các vùng khó khăn khác trên cả nước, đang phải đối mặt với một thách thức hết sức to lớn đó là tỉ lệ học sinh yếu và kém ngày càng cao. Nguyên nhân của sự yếu kém thì rất nhiều nhưng nguyên nhân chính theo chúng tôi là do “kiến thức cơ bản” ở các lớp dưới của các em “yếu” và “hổng”, bên cạnh đó là một bộ phận không nhỏ học sinh chưa có ý thức học tập. Đặc biệt học sinh mới lên lớp 10 chưa nắm bắt kịp phương pháp học ở bậc THPT, các em rất khó tiếp thu kiến thức vì có nhiều kiến thức trừu tượng và khó. Qua giảng dạy tôi nhận thức rằng, mình cần phải nghiên cứu để đưa ra các biện pháp giúp đỡ các em học tốt môn Toán nói chung, cũng là chung tay chia sẻ với những khó khăn của trường trong giai đoạn phát triển hiện nay. Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp giảng dạy giúp học sinh ghi nhớ kiến thức mới”
1.      Giải pháp chính của SKKN :
Việc áp dụng các biện pháp giúp học sinh ghi nhớ kiến thức mới trong dạy học Toán là rất cần thiết. Nó giúp học sinh ghi nhớ được kiến thức mới ngay tại lớp. Nhờ đó các em tiết kiệm được thời gian để học nhiều môn học khác, đồng thời các em có thời gian để luyện tập nâng cao kĩ năng vận dụng kiến thức lý thuyết vào bài tập và áp dụng vào cuộc sống thực tiễn.
2.      Hiệu quả của SKKN mang lại:
-Biện pháp giúp học sinh ghi nhớ kiến thức mới tạo điều kiện để học sinh nắm được kiến thức cơ  bản của bài học ngay tại lớp. Tạo tâm lí thoải mái khi học  môn Toán – môn học được xem là khó với học sinh.
            -Việc trả bài môn Toán rất nhẹ nhàng, các em tự tin thể hiện lại kiến thức mà mình đã nắm ở tiết trước bằng việc tự tin lên bảng vẽ hình và trình bày tốt  kiến thức đã học.
-Tỉ lệ học sinh nắm bài ngay tại lớp cũng tăng hơn so với lúc không áp dụng các biện pháp đã nêu trong quá trình dạy học. Chất lượng dạy học vì thế cũng được nâng lên.
3.      Bài học kinh nghiệm trong quá trình viết SKKN
a.Giáo viên: 
Tạo ra tâm lý hứng thú, sẵn sàng lĩnh hội tri thức môn học để thúc đẩy tính tích cực tư duy của học sinh, khắc phục tâm thế ngại, sợ khi tiếp cận nội dung môn học. Nếu có nhiều hình thức tổ chức dạy học kết hợp môn học sẽ trở lên hấp dẫn và người học thấy được ý nghĩa của môn học.
Về phương pháp dạy học, cần chú ý hơn đến phương pháp lĩnh hội tri của HS, giúp các em có khả năng tiếp thu sáng tạo và vận dụng linh hoạt tri thức trong tình huống đa dạng
Rèn luyện cho học sinh thói quen, tính kỉ luật trong việc thực hiện các kĩ năng giải toán thông qua việc luyện tập; nhằm khắc phục tính chủ quan, hình thành tính độc lập, tính tự giác ở người học, thông qua đó hình thành và phát triển nhân cách của các em.
Phải thường xuyên học hỏi trau rồi chuyên môn để tìm ra phương pháp dạy học phù hợp.
Phải nhiệt tình, gương mẫu quan tâm tới học sinh, giúp đỡ các em để các em không cảm thấy áp lực trong học tập.
Luôn tạo ra tình huống có vấn đề, kích thích hứng thú tìm tòi học tập ở học sinh.
Cho học sinh thấy ứng dụng của lý thuyết vào thực hành.
Đặt ra câu hỏi gợi mở phù hợp với đối tượng học sinh.
            b.Học sinh:
Chăm chỉ nắm chắc lý thuyết.
Có ý thức học tập, hiểu vấn đề một cách sâu sắc.
Biết chuyển ngôn ngữ thông thường sang ngôn ngữ Toán.
Có óc tưởng tượng, phán đoán lôgíc.
4.      Kiến nghị của thầy cô:
Nhà trường nên tạo điều kiện cho Giáo viên mở lớp bồi dưỡng học sinh khá, giỏi, phụ đạo cho học sinh yếu để các em có khả năng tìm hiểu sâu hơn kiến thức.
Nên có các chuyên đề tự chọn để giáo viên và học sinh có thể trao đổi thẳng thắn với nhau về các vấn đề, từ đó có thể rút ra các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.
 
 
Họ và tên: Nguyễn Quang Sâm
Ngày sinh: 23/07/1976
Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
Tổ chuyên môn: Tổ toán tin
 
Tên nội dung sáng kiến: “ Giải một bài toán với nhiều hướng đi khác nhau”
Xuất phát từ thực tế những công việc được giao, để góp phần thiết thực trong quản lý và dạy học nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhà trường; Bản thân tôi đã suy nghĩ có ý tưởng đề ra để thực hiện:
  1. Giải pháp chính của SKKN mang lại:
           Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy trong tự nhiên và xã hội, các sự vật có mối quan hệ tương tác lẫn nhau. Và trong những điều kiện nào đó chúng có thể chuyển hóa qua lại lẫn nhau. Trong lĩnh vực toán học cũng vậy, có nhiều bài toán có liên quan mật thiết với nhau.  Mối quan hệ giữa  chúng trong những điều kiện nào đó cho ta chuyển thể bài toán này sang dạng bài toán khác (có nội dung khác nhau)
      Tôi nhận thấy việc khai thác phương pháp giải bài toán với nhiều hướng đi khác nhau. Đó là việc xem xét, nghiên cứu bài toán đã cho. Phải biết nhìn bài toán dưới dạng chính quy mẫu mực, nhìn trực tiếp vào đặc điểm chủ yếu của bài toán. Từ đó giúp ta phát hện được đặc điểm cơ bản, đơn giản nếu không bị che khuất bởi những hình thức rắc rối mà bài toán tạo ra. Chúng ta phải nhìn bài toán dưới dạng đặc thù, riêng lẻ. Phải khai thác hết mọi khía cạnh biểu hiện tinh vi của bài toán. Trong bối cảnh chung nhưng lại phải biết nhìn bài toán trong bối cảnh cụ thể. Lại phải nhìn bài toán trong sự tương quan với bài toán khác. Chúng ta phải liên tưởng  bài toán trong các các phạm vi khác nhau trong khi nhìn bài toán. Là bài toán đại số phải liên tưởng đến phạm vi hình học, lượng giác và ngược lại.
    Nói chung, trong việc rèn luyện cách nhìn một bài toán, phải có những cái nhìn và cách nhìn đúng. Đây là chìa khóa mở đường tìm kiếm cho các lời giải hay, độc đáo với nhiều hứng đi khác nhau. Giúp học sinh tìm tòi, phát huy tính sáng tạo, hình thành nhiều cách giải khác nhau khi đứng trước một bài toán nào đó là điều rất cần thiết và quan trọng.
     2. Hiệu quả của SKKN mang lại:
      Trong quá trình vận dụng phương pháp trên tôi nhận thấy học sinh đã giải quyết tốt nhiều bài toán phức tạp và một bài toán có nhiều cách giải sáng tạo và độc đáo ngay cả bản thân tôi cũng không nghĩ tới. Đặc biệt hơn học sinh ngày càng ngày có hứng thú trong quá trình nghiên cứu toán học cũng như học môn toán mà xưa nay mọi người vẫn cho là “ khô khan, kém thu hút”.
  1. Bài học trong quá trình viết SKKN:
  Quan tâm, thu thập thông tin từ thực tế giảng dạy, từ mạng internet, từ sách báo …. đến vấn đề mình cần viết
4. Kiến nghị và đề xuất:
     Cần có thêm những buổi dạy phụ đạo ngoài chương trình để nâng cao kiến thức của học sinh. Đáp ứng nhu cầu mong muốn của quý phụ huynh và học sinh.

 
Họ và tên: Phan Thị Thành Lý
Ngày sinh: 19/04/1982
Chức vụ : Giáo viên
Tổ: Lí – KTCN
 Báo cáo tóm tắt sáng kiến kinh nghiệm năm học 2012 – 2013
 Tên nội dung sáng kiến:
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH GIẢI QUYẾT TỐT BÀI TẬP VẬT LÝ 10 BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỘNG LỰC HỌC”
 Xuất phát từ thực tế những công việc được giao, để góp phần thiết thực trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường; bản thân tôi đã suy nghĩ, có ý tưởng để viết sáng kiến này với sự tổng hợp những kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy và sự tham khảo học hỏi từ nhiều nguồn thông tin, sau đây là những tóm tắt chính trong quá trình viết sáng kiến này của tôi.
Giải pháp chính của SKKN:
SKKN trình bày về những vấn đề cơ bản nhất, bản chất nhất về phương pháp động lực học để từ đó học sinh có cơ sở giải quyết những bài tập, giải thích những hiện tượng cơ bản nhất rồi từ đó học sinh có thể tự tìm tòi để làm các bài tập, giải thích các hiện tượng khó hơn.
Nội dung đề tài trình bày một số vấn đề giúp học sinh hiểu đầy đủ và trình bày các bước chính của phương pháp động lực học một cách rõ ràng nhất có thể.
Trong sáng kiến tôi đề cập tới những vấn đề thường gây khó khăn, nhầm lẫn trong quá trình áp dụng phương pháp động lực học để giải bài tập đối với học sinh, những vấn đề gồm :
-          Xét lực và biểu diễn lực như thế nào cho hợp lí, một số sai lầm học sinh thường mắc phải
-          Hiểu và áp dụng định luật II Newton như thế nào cho đúng và đầy đủ.
-          Chiếu và phân tích lực như thế nào là phù hợp nhất, tối ưu nhất.
-          Trong đề tài cũng đưa ra những ví dụ cụ thể và một số bài tập củng cố xoay quanh những bài tập cơ bản mà các em thường gặp trong chương trình vật lí 10 cơ bản.
Hiệu quả của SKKN mang lại
-          Học sinh biết chỉ rõ có những lực nào tác dụng lên vật một cách chính xác.
-          Biết biểu diễn lực tác dụng lên vật đúng và phù hợp về phương, chiều, điểm đặt, độ lớn. Tỷ lệ biểu diễn phù hợp.
-          Hiểu rõ hơn định luật II Niu Tơn được áp dụng trong quá trình chuyển động của vật.
-          Phân tích lực theo phương nào là phù hợp, chọn hệ quy chiếu phù hợp cho từng đối tượng bài toán.
-          Giúp học sinh có một hệ thống bài tập cơ bản, bản chất để rèn luyện về phương pháp động lực học.
Bài học kinh nghiệm trong quá trình viết SKKN
Việc lựa chọn và đặt tên đề tài là việc làm đầu tiên trước khi viết SKKN. Việc này, người viết SKKN cần xác định kỹ nội dung mình định viết, lựa chọn vấn đề mình đã nắm vững một cách thấu đáo trong quá trình công tác.
Người viết SKKN nên chọn đề tài ở lĩnh vực mình đã trải qua công tác, ở những công việc mà mình đang đảm nhiệm và thực hiện đạt hiệu quả cao để viết SKKN. Người viết không nên chọn và viết theo sở thích của mình, lại càng không nên tưởng tượng để viết thành một SKKN.
Để viết một sáng kiến có chất lượng đòi hỏi sự tâm huyết, nhiệt tình của người viết. Người viết phải có quá trình tích lũy kinh nghiệm nghiêm túc thông qua quá trình giảng dạy của mình. Người viết cũng nên năng động trong quá trình tìm hiểu những nguồn tư liệu khác qua mạng internet, qua đồng nghiệp.
Việc viết sáng kiến đòi hỏi phải có một khoảng thời gian chuận bị khá dài, và thời gian viết cũng không phải ít vì vậy người viết phải xác định thời gian cho phù hợp.
 
 BÁO CÁO TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Họ và tên: HOÀNG VĂN THÁI
Ngày sinh: 16/08/1976
Chức vụ: Phó bí thư Chi bộ
Tổ chuyên môn: Lý – KTCN           
Tên sáng kiến: “Phân loại và phương pháp giải bài tập phần lượng tử ánh sáng”
Trong thời gian giảng dạy bộ môn Vật lý lớp 12, tôi luôn trăn trở để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Đặc biệt là cải thiện kết quả học tập của học sinh cũng như kết quả thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào đại học, cao đẳng của các em. Trong khi đó, thời lượng giảng dạy môn vật lý ở lớp 12 rất ít mà lượng kiến thức lại quá nhiều và khó nên giáo viên rất không thể truyền tải hết các kiến thức cũng như kỹ năng giải bài tập cho học sinh. Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tôi đã suy nghĩ và phân loại các bài tập Vật lý 12 thành các dạng để học sinh có thể tiếp thu một cách có hệ thống, có phương pháp nhằm đạt kết quả cao trong học tập. Trong thời gian qua, tôi đã lần lượt viết sáng kiến phân loại và phương pháp giảng dạy cho từng phần như Cơ học, Sóng cơ ...v.v và đạt được các giải cao của trường cũng như của Sở giáo dục và Đào tạo. Vừa qua tôi đã hoàn thành sáng kiến mang tên:  “Phân loại và phương pháp giải bài tập phần lượng tử ánh sáng” và đã đạt giải A cấp trường, giải B cấp Sở. Sau đây, tôi xin tóm tắt các nội dung chính của sáng kiến trên như sau:
1/ Giải pháp chính của SKKN
Hiện nay, trên thị trường sách và các phương tiện thông tin có nhiều sách tham khảo cho học sinh nhưng việc phân loại các bài tập và phương pháp giải các bài tập không thống nhất, thậm chí là rất khác nhau gây ra nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội và thi cử của học sinh. Có tài liệu phân loại quá nhiều dạng dẫn đến các dạng vụn vặt, khó cho học sinh trong quá trình nắm bắt một cách có hệ thống. Có tài liệu lại quá cô đọng dẫn đến phương pháp không tổng quát hết cho một dạng. Vì vậy tôi đã phân dạng một cách vừa phải, vừa mang tính tổng quát, vừa mang tính cụ thể. Bên cạnh đó, tôi đã đề ra phương pháp giải cụ thể cho từng dạng, có chú ý đến sự khác biệt và các kiến thức liên quan. Cụ thể là tôi đã phân loại các bài tập phần lượng tử ánh sáng thành 3 dạng như sau:
DẠNG I: Tìm vận tốc cực đại của electron khi đập vào anot, bước sóng nhỏ nhất (hay tần số lớn nhất) của tia X mà ống Cu-lit-giơ có thể phát ra.
DẠNG II: Tính giới hạn quang điện, công thoát và vận tốc cực đại ban đầu của e quang điện khi bật ra khỏi catot, hiệu điện thế hãm (Uh) và điện thế cực đại của một vật kim loại đặt cô lập (Vmax).
DẠNG  III: Các bài toán liên quan đến công suất  bức xạ của nguồn, tính số phôton đập vào catot, số e bật ra sau thời gian t, cường độ dòng quang điện bão hòa.
Sau mỗi dạng, tôi có nêu phương pháp tổng quát, lấy các ví dụ minh họa. Ngoài ra tôi còn có các chú ý mở rộng cho các trường hợp khác. Sau đó, tôi đã lấy các ví dụ một cách tổng quát để các em có thể vận dụng một cách linh hoạt các kiến thức trong đề tài.
Trong quá trình biên soạn, tôi luôn cập nhật các dạng toán mới nhất có trong các đề thi chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2/ Hiệu quả của SKKN mang lại:
Từ thực tế áp dụng giảng dạy cho học sinh khối 12 năm học 2012- 2013 tôi thấy học sinh nắm bắt kiến thức một cách có hệ thống hơn, việc giải bài tập dễ hơn. Đồng thời các em nhớ lâu các dạng đã học và áp dụng tốt cho các các bài toán của các kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào đại học và cao đẳng. Kết quả là trong kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh cao đẳng, đại học vừa qua, môn Vật lý là một trong những môn có điểm trung bình cao nhất  
3/ Bài học kinh nghiệm trong quá trình viết SKKN:
Đề tài phải được tác giả chọn lọc và suy nghĩ cẩn thận, đặc biệt là trong bộ môn Vật lý 12 thì hình thức thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học, cao đẳng là hình thức thi trắc nghiệm nên các đề tài nên hướng đến việc làm bài thi một cách nhanh nhất, dễ nhất và đúng nhất. Vì vậy trong nghiên cứu và áp dụng các đề tài luôn nhắm đến các đặc điểm chuyên biệt của hình thức thi này. Mặt khác để phù hợp với trình độ học sinh của trường THPT Việt Đức, các đề tài nên hạn chế các lý luận dài dòng mà tập trung vào rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh.
4. Kiến nghị:
Để các đề tài mang lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy, nhà trường nên có kế hoạch phổ biến các kinh nghiệm hay, các sáng kiến tốt để các thầy cô khác và học sinh tham khảo.
                                                                                   
 BÁO CÁO TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Họ và tên: HÀ HUY BÌNH
Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
Tổ chuyên môn: Ngữ Văn      
Tên sáng kiến: Nghị luận xã hội
      Xuất phát từ thực tế những công việc được giao, để góp phần thiết thực trong việc quản lí và dạy học nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường, bản thân đã có suy nghĩ, có ý tưởng đề ra sáng kiến để thực hiện dạy – học tốt Văn nghị luận xã hội, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu như sau:
1. Giải pháp chính của sáng kiến kinh nghiệm:
Môn Ngữ văn nhiều năm giảng dạy và nghiên cứu đã gợi mở cho chúng tôi nhiều điều bổ ích. Trước hết, giúp cho tôi nhận thức sâu sắc về chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn bậc trung học phổ thông. Trong đó nhấn mạnh ý thức thực hiện những đổi mới về thể văn Nghị luận xã hội, khắc phục một số tồn tại của dạy tập làm văn theo chương trình cũ, góp phần đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng những yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đầu thế kỷ XXI. Theo đó, thông qua bài dạy góp phần làm giàu thêm vốn kiến thức cơ bản về văn học, kỹ năng tập làm văn để giải quyết các vấn đề thực tế dạy - học đặt ra.
Thứ đến, con người không ngừng bày tỏ ý kiến của mình về các vấn đề trong đời sống xã hội. Không giống với lối bày tỏ cảm xúc, tình cảm trong văn biểu cảm, việc trình bày quan điểm, cách đánh giá nhìn nhận trong văn nghị luận nhằm giải thích, chứng minh cho người đọc, người nghe thuyết phục một vấn đề nào đó khi đưa ra được luận điểm, luận cứ lập luận một cách chặt chẽ.
Hai dạng nghị luận chính sau đây: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí; Nghị luận về một hiện tượng đời sống. Bên cạnh nó, nghị luận xã hội trong tác phẩm văn học cũng có vị trí đặc biệt quan trọng.  Cả ba dạng nghị luận này đều vừa kết hợp các thao tác lập luận như phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ… lại vừa kết hợp phương thức nghị luận với phương thức thuyết minh và phương thức biểu cảm.
Sáng kiến đã triển khai các nội dung chính sau đây:
    I. Điểm chung của văn nghị luận x hội
1. Loại
2. Thao tác
2.1. Giải thích
a. Mục đích
b. Các bước
2.2. Chứng minh
a. Mục đích
b. Các bước
2.3. Bình luận
a. Mục đích
b. Các bước
3. Kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
3.1. Kĩ năng vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận
3.2. Kĩ năng vận dụng tổng hợp các phương thức biểu đạt
           3.3. Điều kiện cần và đủ để làm văn nghị luận
II. Điểm riêng của văn nghị luận
1. Dạng nghị luận về một tư tưởng đạo lí
1.1. Loại
1.2. Đề tài
1.3. Về yêu cầu cấu trúc triển khai tổng quát nghị luận một tư tưởng đạo lí
1.3.1. Tìm hiểu đề
1.3.2. Lập dàn ý
1.4. Một số đề tham khảo
1.4.1. Đề ra
1.4.2. Định hướng phân tích, lập dàn ý một số đề cơ bản
2. Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống
2.1. Loại
2.2. Đề tài
2.3. Về cấu trúc triển khai tổng quát nghị luận về một hiện tượng đời sống
2.3.1. Tìm hiểu đề
2.3.2. Lập dàn ý
2.4. Một số đề tham khảo
2.4.1. Đề ra
2.4.2. Định hướng phân tích, lập dàn ý một số đề cơ bản
(Đề thi tuyển đại học và cao đẳng khối C, D các năm)
3. Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
3.1. Loại
3.2. Đề tài
3.3. Yêu cầu cấu trúc triển khai tổng quát nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
3.3.1. Tìm hiểu đề
3.3.2. Lập dàn ý
3.4. Một số đề tham khảo
3.4.1. Đề ra
3.4.2. Định hướng phân tích, lập dàn ý một số đề cơ bản
4. Định hướng phân tích, lập dàn ý một số đề cho các dạng nghị luận văn học
   2. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Một là sáng kiến có giá trị về mặt lý luận. Thông qua việc nghiên cứu nghị luận xã hội của Ngữ văn lớp 12, giáo viên có thêm lí luận để tiếp tục dạy học giúp học sinh phát triển các năng lực tư duy, hứng thú trong học tập.
Hai là sáng kiến mang ý nghĩa thực tiễn: Giáo viên tập làm công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng, một công việc bắt buộc thuộc trách nhiệm và bổn phận của người thầy giáo nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ.
Ba là sáng kiến mang ý nghĩa sư phạm: Từ việc dạy văn nghị luận xã hội, giáo viên dần dần hình thành các kỹ năng, kỹ xảo sử dụng lí lẽ, dẫn chứng, thao tác lập luận cho học sinh thông qua hệ thống bài tập làm văn, để từ đó nâng tầm khái quát về các kiểu dạng văn nghị luận xã hội giúp học sinh hiểu sâu, nhớ lâu, vận dụng tốt kiến thức văn học. Hơn nữa nhờ thực hiện thành thạo lí lẽ, sự giải nghĩa và liên hệ với thực tiễn…, học sinh có điều kiện trau dồi được lời nói một cách chính xác, khoa học. Vì vậy, có thể coi sáng kiến này như là một sáng kiến tham khảo bổ ích cho giáo viên, phụ huynh và học sinh. 
 3. Bài học kinh nghiệm trong quá trình viết sáng kiến kinh nghiệm
Người viết phải tuân thủ đúng các bước nghiên cứu: Với sáng kiến trên, chúng tôi tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề sau:
    3.1. Lí do chọn nghiên cứu
Tất cả các kì thi, từ thi học sinh giỏi Olympic, thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia cho đến kì thi tốt nghiệp THPT, thi vào Đại học - Cao đẳng, học sinh đều phải làm một bài văn nghị luận xã hội. Bài nghị luận xã hội nói chung rất khó đối với các em.
    3.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu Văn nghị luận xã hội lớp 12 nhằm đạt 2 mục đích sau:
Thứ nhất l nghiên cứu khoa học hàng năm có tính chất kiểm tra nghiệp vụ sư phạm của bản thân về bộ môn.
Thứ 2 đặt ra vô cùng thiết yếu trong sáng kiến này là đi sâu nghiên cứu phương pháp dạy học Tập làm văn theo chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn mới.
Để đạt được mục đích,  chúng tôi đặt ra 2 nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Nhiệm vụ khảo sát các tiết dạy có liên quan đến thể văn nghị luận xã hội để chỉ ra phương pháp tổ chức dạy học “nghị luận xã hội” theo yêu cầu đổi mới.
Vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh để làm tốt tất cả các bài văn nghị luận.
3.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Thực hiện nhiệm vụ đặt ra, đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp “văn nghị luận xã hội”, Ngữ văn 12, Tập 1,2 , Nhà xuất bản Giáo dục năm 2008.
Đối tượng khảo sát và nghiên cứu chính: Văn nghị luận xã hội.
3.4. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu đề tài khoa học nhằm mở ra một hướng tiếp cận có hệ thống và khoa học về dạng văn nghị luận xã hội mà không lặp lại các sáng kiến đã có trước đó. Điều này sáng kiến chắc chắn sẽ đem lại nhiều cái mới và thú vị hơn. 
      3.5. Phương pháp nghiên cứu (phối hợp)
      3.6. Cấu trc của đề tài (chương, mục r rng)
    4. Kiến nghị 
4.1. Giáo viên phải tự trang bị có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về môn Tập làm văn, về phương pháp dạy học tích cực.
4.2. Giáo viên phải đặc biệt khai thác ý tưởng về kiến thức mà nhóm soạn giả đã đưa vào nội dung sách giáo khoa Ngữ văn 12. Không chỉ xem sách giáo viên, thiết kế bài giảng là tài liệu để tham khảo mà còn phải soạn giảng, thiết kế bài giảng sao cho tốt nhất trong điều kiện có thể xuất phát từ thực tiễn dạy học của trường, khu vực mình đang giảng dạy.
4.3. Bộ phận phụ trách chuyên môn phải luôn tổ chức sinh hoạt chuyên đề, nhằm khơi dậy hứng thú dạy học, rút ra được những kinh nghiệm nghề nghiệp sư phạm cho giáo viên.
4.4. Giáo viên phải coi học sinh là chủ thể của quá trình dạy học, phải giúp học sinh chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học tập. Việc dạy văn nghị luận xã hội sẽ giúp học sinh mở mang sự hiểu biết, bồi dưỡng tình yêu cái đẹp. Như vậy, dạy văn nghị luận xã hội có một ý nghĩa to lớn vì nó còn bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
4.5. Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được tổng hợp trong văn nghị luận xã hội. Nếu không biết làm văn nghị luận xã hội thì con người không thể tiếp thụ tốt nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Không biết làm văn nghị luận xã hội, con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện. Biết làm văn nghị luận xã hội, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây con người biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội đúng đắn. Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Rèn luyện tập làm văn nghị luận x hội chính l học, học nữa, học mi, để tự học, học cả đời.
 
 

Tác giả bài viết: Văn Quyết

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết





Những tin cũ hơn
 

Đăng nhập

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 6


Hôm nayHôm nay : 859

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3255

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 618404

Giới thiệu

Chi bộ trường THPT Việt Đức

       Trường THPT Việt Đức được thành lập theo Quyết định số 536/QĐ-UB, ngày 20 tháng 6 năm 1983 của Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Lăk. Một ngôi trường được hình thành dựa trên cơ sở hiệp định hợp tác kinh tế hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Khi mới thành lập...

Lịch 2013